Tuesday, November 10, 2015

TANKPEDIA: C1 ARIETE

C1 Ariete. Ảnh: Internet


TÊN GỌI: C1 ARIETE
Loại: MBT
Quốc gia sản xuất: Italy
Trọng lượng: 54 tấn
Kích thước (dài x rộng x cao): 9.52m x 3.61m x 2.45m
Kíp lái: 4 người (chỉ huy, lái xe, pháo thủ, nạp đạn viên)
Động cơ: Fiat MTCA V12 (1273hp)
Tốc độ : 65 km/h
Tầm hoạt động: 500km
Hỏa lực:
  • Một pháo L11A1 120mm
  • Một súng máy L8A1 7.62mm đồng trục
  • Một súng phòng không L37A1 7.62mm gắn trên tháp pháo
Giáp:
  • Phía trước tháp pháo: 195mm
  • Phía trước thân: 120mm
  • Hông xe: 35mm
Các loại đạn: HEAT, APFSDS
Số lượng xuất xưởng: 200 chiếc

CHIẾC XE TĂNG 100% CHẤT Ý

Từ năm 1970 đến 1995, xe tăng chính của Ý là những chiếc M60A1 của Mỹ, tương đương những chiếc Leopard thời bấy giờ. Những chiếc M60 đã được lên kế hoạch thay thế vào năm 1985, và phiên bản chiếc tăng thử nghiệm đầu tiên ra mắt năm 1986, được đặt tên là "Ariete" (Ram) nhằm tôn vinh những sư đoàn tăng thiết giáp của Ý chiến đấu cùng Afrika Korps trong những năm 1941 - 1943.

Dự án được phát triển bởi Iveco Fiat và OTO Melara (hãng có giấy phép sản xuất Leopard I), ngoài ra còn một số nhà thầu phụ. Những phiên bản cuối cùng được kiểm tra tại La Spezia.

C1 được phát triển để trở thành một chiếc tăng nhanh, hoạt động được cả ngày lẫn đêm, khả năng bắn chính xác khi di chuyển nhờ hệ thổng ổn định cùng nhiều cảm biến khác

THÂN VÀ GIÁP

Thân xe được nghiên cứu và sản xuất bởi Iveco, dựa trên những chiếc MBT của Tây Âu, nhưng nhỏ hơn một chút do động cơ được thu gọn.

Phía trước chiếc C1 Ariete. Ảnh: Internet

Bố trí kíp lái theo tiêu chuẩn, lái xe ở bên trái phía trước xe, động cơ nằm sau xe, và bộ phận khai hỏa nằm giữa xe. Phần phía trước thân xe có độ nghiêng tốt, nhưng bên hông lại phẳng, với khối động cơ lớn nằm ngay sau tháp pháo.  Hệ thống dẫn động gồm  những bánh răng điều chỉnh ở phía sau, bánh chờ ở phía trước, 7 bánh xích giảm xóc bằng thanh xoắn cùng hệ thống giảm xóc bằng thủy lực, giảm chấn ma sát và 4 bánh đỡ xích mỗi bên.

Ariete còn được gắn chắn bùn với bộ bảo vệ đèn tín hiệu, và bộ giáp gắn rời 6 mảnh bên hông xe. Nhiều phần của chiếc xe được lấy ý tưởng từ chiếc Leopard 2. Cấu tạo giáp được giữ kín, sử dụng giáp tổng hợp giữ thép và composite, tương tự như chiếc Challenger và Abrams. Chiều cao gầm là 0.44m, thân xe được chế tạo để chịu được được chiến tranh hóa học và hạt nhân. Ariete có thể lặn sâu 5 dưới nước. Và nhờ trọng lượng nhẹ, chiếc Ariete có thể đi qua gần như mọi cây cầu ở Châu Âu.

Hệ thống phóng đạn khói bằng kích điện được gắn hai bên tháp pháo. Ariete còn được gắn hệ thống cảnh báo bằng laser sản xuất bởi BAE Systems Italia. Hệ thống này được gắn phía trước tháp pháo cho khả năng bao quát 360 độ.

THÁP PHÁO VÀ HỎA LỰC

Tháp pháo được phát triển bởi OTO Melara, cùng với pháo và các thiết bị đi kèm. Tương tự như trên chiếc Challenger. Tháp pháo có mặt trước nghiêng và phần hở phía dưới ít làm tăng khả năng chống đạn. Trên tháp pháo có lối vào cho chỉ huy và nạp đạn viên. Nạp đạn viên hoặc pháo thủ có thể được trang bị khâu MG42/ 59 trong khi người kia được trang bị khẩu 7.62mm đồng trục với pháo chính.

Pháo chính là OTAN 122mm nòng trơn dùng công nghệ autofrettage tăng độ bền. Khẩu pháo này được bọc tản nhiệt, bộ hút khói và các cảm biến đầu nòng. Pháo chính được ổn định 2 trục bằng thủy lực và có thể bắn các loại đạn như APFSDS (đạn xuyên có ổn định cánh đuôi) và HEAT (đạn lõm). Với khả năng mang được 42 viên đạn. 15 viên đặt trong tháp pháo, 27 viên còn lại đặt ở ngăn chứa trên thân xe.
C1 Ariete. Ảnh: Internet

Ariete còn được trang bị súng máy 7.62mm chuẩn NATO đồng trục với pháo chính và một súng máy phòng không 7.62mm gắn trên tháp pháo và được điều khiển bởi chỉ huy. Số lượng dạn 7.62mm có thể mang theo là khoảng 2500 viên.

Chỉ huy được trang bị kính ngắm toàn cảnh ổn định và một màn hình đẻ hiện thị hình ảnh tầm nhiệt từ góc nhìn của xạ thủ. Kính ngắm của chỉ huy gắn trên nóc tháp pháo, có khả năng xoay 360 độ và góc nâng hạ từ -10 đến +60 độ.

Lái xe được trang bị 3 kính tiềm vọng, một trong số đó có khả năng nhìn đêm.

ĐỘ LINH HOẠT

Ariete sử dụng động cơ Fiat V-12 MTCA siêu nạp, 12 xy lanh, sản sinh công suất 1273hp. Một phiên bản nâng cấp của động cơ này cũng được sản xuất bởi Iveco cho công suất từ 1600hp đến 1800hp. Hệ thống chuyển số sản xuất theo giấy phép của ZF (Đức) có 4 số tiến và 2 số lùi. Kết hợp với đó là hệ thống lái và phanh thủy lực. 

ARIETE TRONG ARMORED WARFARE

Trong AW, Ariete là chiếc MBT cấp 8 của Ý. Bạn cần hơn 540.000 exp và 8,16 triệu "bạc" để có thể sở hữu chiếc tăng này. Pháo chính có mức max dam là 458. Độ xuyên tối đa là 528mm. Lượng hitpoint 2350hp. 
C1 Ariete "full giáp" trong AW. Ảnh: Internet

Ariete được unlock từ chiếc Challenger 1. Và có khả năng unlock chiếc Challenger 2 bằng hệ thống token trong bản update 0.11

DA tổng hợp

Monday, November 9, 2015

NHẬT KÝ PHÁT TRIỂN - LỚP GIÁP (P2)

NHỮNG HÌNH THỨC NÂNG CẤP BẢO VỆ BỔ SUNG

Giáp bổ sung: Là một lớp giáp bổ sung, tăng cường cho một số khu vực trên chiếc xe, gia tăng độ dày của lớp giáp tại khu vực đó.

Giáp lồng: Là một hệ thống lưới sắt bao quan một số khu vực trên chiếc xe, thiết kế nhằm mục đích kích nổ đầu đạn HEAT hoặc vô hiệu hóa hoàn toàn nó. Trong AW, lớp giáp lồng không thể bị phá hủy và hoạt động như một lớp màn chắn chống đạn HEAT đặc biệt hiệu quả. Hiện tại, khi đạn HEAT bắn trúng lớp giáp lồng, đầu đạn HEAT có 66% khả năng sẽ kích nổ trên bề mặt của lớp giáp này, khiến cho đầu đạn bị giảm khả năng xuyên phá một cách đáng kể. Ngoài ra, giáp lồng còn bảo vệ xe khỏi đạn nổ, giảm thiểu thiệt hại của loại đạn này bằng cách kích nổ chúng từ xa thân xe.

Giáp phản ứng nổ (ERA - Explosive Reactive Armor): Hệ thống giáp này bao gồm các hộp sắt chứa chất nổ bên trong. Những hộp này sẽ phát nổ khi bị bắn trúng, làm phân tán động năng của đạn xuyên phá nhưng mục đích chính của loại giáp này đó là chống lại đạn HEAT bằng việc khiến cho luồng plasma sau khi kích nổ của đầu đạn phải di chuyển quãng đường dài hơn, từ đó làm giảm đáng kể hiệu quả của loại đạn này. Khi bị bắn trúng, giáp phản ứng nổ tại khu vực đó của xe sẽ được kích hoạt và mất đi. 

Các khối giáp phản ứng nổ gắn ngoài tháp pháo của 1 chiếc tăng. Ảnh: Interner

Giáp phản ứng nổ làm vô hiệu hóa hiệu quả của đạn HEAT khi trúng đạn, nhưng vị trí đã bị trúng đạn trước đó sẽ không còn được bảo vệ bởi hiệu ứng của loại giáp này nữa do đã bị mất đi, vì vậy, nếu bị trúng đạn liên tục tại một vị trí, lớp giáp sẽ có nguy cơ bị xuyên phá cao hơn. Bạn sẽ luôn được biết lớp giáp phản ứng nổ (ERA) có được kích hoạt hay không – Do các hộc chứa ERA được thể hiện trên mô hình xe. Một tác dụng khác của ERA đó là giảm thiểu được một mức độ nào đó của các loại đạn xuyên giáp. 

Để chống lại giáp ERA, một loại đạn HEAT đặc biệt đã được phát triển – Đạn tandem. Loại đạn này bao gồm 2 đầu đạn HEAT cơ bản, kích nổ lần lượt – Đầu đạn đầu tiên sẽ phá hủy lớp ERA, sau đó, đầu đạn thứ hai sẽ xuyên phá lớp giáp chính. Trong AW, đạn HEAT tandem không hoàn toàn bị vô hiệu hóa bởi ERA. Thay vào đó, loại đạn này sẽ coi ERA như một lớp giáp bổ sung có hệ số giáp cao đối với đầu đạn HEAT. Lớp giáp ERA càng mạnh thì hệ số giáp này càng lớn.  Điều này có nghĩa là đạn HEAT Tandem có thể phá hủy lớp ERA yếu, nhưng có thể được chống lại bằng một lớp ERA mạnh hơn hoặc sự kết hợp giữa ERA và một lớp giáp mạnh phía dưới.


Lớp giáp phản ứng nổ (ERA) trên T72A (Phần màu trắng)


Hệ thống phòng thủ chủ động: Ngoài việc trang bị những modun giáp trên, một số phương tiện hiện đại còn được trang bị hệ thống phòng thủ chủ động (APS). Hệ thống này được thiết kế nhằm bảo vệ xe khỏi tên lửa dẫn hướng bằng việc bắn những đầu đạn đánh chặn những tên lửa trên, phá hủy chúng khi chúng vẫn còn đang trên đường bay. Hệ thống này hoạt động một cách tự động, nhưng có một số hạn chế và mất thời gian nạp đạn. Loại hệ thống phòng thủ chủ động thứ hai không sử dụng đạn động năng, chúng làm mất phương hướng của tên lửa dẫn hướng bằng hệ thống điện tử hay bằng ánh sáng.
Một bộ phận của hệ thống APS Shtora trên tăng T-90. Ảnh: Internet

Trong AW, các hệ thống phòng thủ chủ động này được sử dụng không giới hạn số lần, nhưng cần thời gian nạp lâu hơn. Trong tương lai, hệ thống phòng thủ không sử dụng đạn động năng trong AW sẽ khiến các loại tên lửa bị mất phương hướng thay vì phá hủy chúng, khiến cho chúng bay ra xa khỏi chiếc tăng.

Lựu đạn khói: Hệ thống phòng thủ này hoạt động bằng cách khai hỏa một số lựu đạn khói về phía trước turret, tạo ra một màn khói và che giấu chiếc xe của bạn khỏi tầm nhìn của quân địch trong một khoảng thời gian. Làn khói sẽ biến mất rất nhanh, vì vậy, biện pháp phòng thủ này chỉ nên được sủ dụng như một phương án cuối cùng. Hệ thống này chỉ có trên một số class tăng nhất định, được kích hoạt thủ công và giới hạn số lần sử dụng.
Diễn tập dùng lựu đạn khói. Ảnh: Internet

MÔ HÌNH VA CHẠM TRONG AW

Các phương tiện trong AW bao gồm hai mô hình – Mô hình hiển thị (Là hình ảnh mà người chơi thấy trong game) và mô hình va chạm (Mô hình đơn giản để tính toán khả năng trúng đạn, trượt, xuyên phá trên server của game). So với mô hình hình thị, mô hình va chạm chỉ có một số hình khối nhất định. Có hai lý do chính cho việc tối giản này:
  •          Giảm tải cho server của AW
  •           Quan trọng hơn, game sẽ dễ dàng hơn với người chơi

Để hiểu rõ hơn về lý do thứ hai – hãy tưởng tượng mô hình va chạm trong AW có đầy đủ các chi tiết như mô hình hình thị. Từng chi tiết về sắt thép và  - từng tình huống hiếm hoi – sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả xuyên phá của đầu đạn, dẫn tới game sẽ khó chơi và khó đoán hơn: Đầu đạn có thể bị bật ra sau khi trúng một mấu sắt hàn nhỏ phía trước xe (Phần móc kéo chẳng hạn). Dù những tình huống ngẫu nhiên này có xảy ra trong đời thực, nhưng nó có thể khiến cho game trở nên nhàm chán hơn vì người chơi cần dự đoán được khả năng xuyên phá như thế nào đối với lớp giáp.  Một mô hình va chạm quá chinh tiết sẽ khiến cho nhiều tình huống đặc biệt xuất hiện khi đầu đạn bị sượt qua một phần nhỏ của lớp giáp chi tiết vào những khu vực xung yếu của chiếc xe. Chúng tôi không muốn những “tai nạn” trên xảy ra thường xuyên, vì vậy chúng tôi đã lựa chọn cách làm mô hình giáp tối giản dù Cryengine có hỗ trợ mức mô hình va chạm với mức độ chi tiết rất cao.


Mô hình va chạm của T-62

Mỗi mô hình va chạm của một chiếc xe được chia ra làm nhiều khu vực, được đánh dấu bằng màu sắc riêng. Mỗi khu vực được gán một con số, đại diện cho độ dày của lớp giáp bằng milimet (Trước khi nhân với hệ số giáp). Toàn bộ cơ cấu va chạm đều được tính toán bởi server khi đầu đạn va chạm với mô hình này. Giáp rỗng có những vùng riêng, tương tự như ERA.

Phía trước thân T-62


Phần hông của thân T-62

Phía sau thân T-62


Phía trước tháp pháo T-62


Hông tháp pháo T-62


Phía sau tháp pháo T-62
I-Newbie dịch (còn tiếp)

Saturday, November 7, 2015

BỘ HÌNH NỀN THÁNG 11

Trên trang chủ AW vừa cho đăng tải bộ hình nền tháng 11. Có 2 loại có lịch và không có lịch. Ấn vào cỡ ảnh để download ngay nhé!

Có lịch

1024×768, 1280×720, 1280×800, 1280×1024, 1366×768, 1600×1200,1680×1050, 1920×1080, 1920×1200,2560×1440, 2560×1600

Friday, November 6, 2015

TANKPEDIA - STINGRAY

Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về Stingray - Cá đuối. Chiếc tăng hạng nhẹ cấp 6 trong AW

TÊN GỌI: STINGRAY
Loại: Tăng hạng nhẹ
Quốc gia phát triển: Mỹ
Quốc gia sử dụng: Thái Lan

THÔNG SỐ CƠ BẢN

Trọng lượng: 22.6 tấn
Chiều dài: 9.3m
Chiều dài thân xe: 6.44m
Chiều rộng: 3m
Chiều cao: 2.7m
Kíp lái: 4 người (chỉ huy, lái xe, pháo thủ, nạp nạn kiêm liên lạc viên)
Vũ khí chính: L7A3 105mm, khả năng mang theo 36 viên đạn
Vũ khí phụ: súng máy đồng trục 7.62mm (2400 viên), súng phòng không 12.7mm (1100 viên)
Góc bắn: -7 đến +20 độ
Góc xoay tháp pháo: 360 độ
Động cơ: Detroit Diesel Allison 8V-92TA 535hp (399kW), làm lạnh bằng chất lỏng, siêu nạp, 2 thì V-8
Giảm xóc: hệ thanh xoắn độc lập
Tầm hoạt động: 480km
Tốc độ tối đa trên đường bằng: 67km/h

Stingray là chiếc tăng hạng nhẹ được phát triển và sản xuất bởi công ty Textron Marine & Land Systems (trước đó gọi là Cadillac Gage). Nó được thiết kế để sử dụng lại những thành phần của các xe tăng khác nhằm làm giảm giá thành.

Nguyên bản nó là một chiếc tăng hạng nhẹ với hỏa lực của một chiếc MBT, nhưng lại thiếu một số yếu tố để trở thành MBT. Stingray được xuất khẩu sang Thái Lan, và đây là quốc gia duy nhất hiện đang sử dụng loại tăng này.

Stingray và bản nâng cấp Stingray II lần lượt là các chiếc light tank cấp 6 và 7 trong AW.

STINGRAY
Stingray light tank. Ảnh: Internet

Pháo trên Stingray là pháo nóng xoắn 105mm L7A3, sản xuất bởi Royal Ordnance Factory, một công ty của Anh. Khẩu pháo này cũng được dùng trên chiếc Leopard 1 và M1 Abrams. Khẩu pháo này nạp đạn bằng tay, 8 viên đạn được cất trong tháp pháo, những viên còn lại đặt trong thân xe.

Vũ khí phụ là súng máy đồng trục 7.62mm và súng phòng không 12.7mm gắn trên tháp pháo

Dự án Stingray bắt đầu năm 1983, bản thử nghiệm đầu tiên ra mắt năm 1984. Và cho đến năm 2004, quốc gia duy nhất đặt hàng Stingray là Thái Lan, với số lượng 106 chiếc

STINGRAY II

Stingray II là một phiên bản nâng cấp của Stingray, phát triển bởi Cadillac Cage để xuất khẩu. Để tăng cường khả năng sống sót khi chiến đấu, phần giáp trước được tăng cường bằng loại thép siêu cứng (phát triển năm 2001), tăng khả năng chống lại những vũ khí có cỡ nòng 23mm (Ở Stingray là 14.5mm). Để bảo vệ phần trên của bộ giảm xóc, giáp hông với khả năng chịu đựng tương tự cũng được thêm vào. Bộ giáp hông có thể dễ dàng được tháo rời để sữa chữa những bộ phận bên trong.

Stingray II. Ảnh: Internet


Với lớp giáp tăng cường, Stingray II có trọng lượng 22,22 tấn. Nếu được yêu cầu, một lớp giáp rời khác có thẻ được lắp thêm trong khoảng 2 đến 4 giờ, chỉ với những công cụ thông thường. Sau khi gắn lớp giáp rời, trọng lượng tăng lên 26,3 tấn. Khi đó Stingray II sẽ có khả năng chống chọi lại các vũ khí như RPG-7 hoặc tương đương.

Để đạt được mức độ chính xác cao khi đối đầu với những mục tiêu đứng yên hoặc di động, hệ thống kiểm soát hỏa lực kỹ thuật số được thêm vào. Đây là hệ thống được dùng trên chiếc M1A1.

Pháo thủ được lắp kính ngắm ngày/đêm của Raytheon Systems Company HIRE, với khả năng đo xa bằng laser. Pháo thủ cũng được trang bị bột kính nhìn ban ngày với độ phóng đại 6.2x dự phòng
Stingray II trong biên chế quân đội Thái Lan. Ảnh: Internet

Chỉ huy được trang bị thiết bị M36E1 giúp tăng cường tầm nhìn trong đêm, cùng với khả năng tầm nhiệt mục tiêu. Ngoài ra chỉ huy vẫn được trang bị 7 kính tiềm vọng cho khả năng quan sát 360 độ

Bộ xích chuẩn của Stingray II rộng 380mm, nhưng nó có thể được thay thế bằng xích có độ rộng 460mm, giúp tăng khả năng hoạt động của xe trên nhiều loại địa hình.

Về hỏa lực, Stingray II vẫn dùng khẩu pháo L7A3 trên Stingray I. Vũ khí phụ là súng máy đồng trục 7.62mm M240 và sung phòng không 12.7mm M2.

Những trang bị tùy chọn thêm như hệ thống Radio và điện đàm, hệ thống nhìn đêm của lái xe, hệ thống định vị GPS và mặt nạ phòng độc.

Stingray trong AW. Ảnh: Internet


Ngoài ra Stingray II còn được trang bị khả năng cảnh báo laser, và khả năng tạo khói qua ống xả.

NHỮNG BIẾN THỂ KHÁC

Stingray II gắn tháp pháo LAV-105

Được nghiên cứu bởi Textron Marine & Land Systems, chiếc Stingray II có thể gắn thêm tháp pháo của xe LAV-105 (8x8)

Tháp pháo LAV-105 được chế tạo cũng bởi Textron, tháp pháo nào dùng pháo 105mm M35 và có khả năng nạp đạn tự động.

Phiên bản này cần một kíp lái 3 người, bao gồm chỉ huy, pháo thủ và lái xe. Phiên bản Stingray gắn tháp pháo LAV-105 có trọng lượng 21,1 tấn. Ngoài ra phiên bản này còn được tăng cường lớp giáp ở trước xe, nâng tổng trọng lượng lên 25,5 tấn.

DA dịch
Nguồn Wiki, Army-Guide, Internet



Wednesday, November 4, 2015

NHẬT KÝ PHÁT TRIỂN - LỚP GIÁP (P1)

Xuyên suốt lịch sử , lớp giáp – hay lớp vỏ - đã trải qua một quá trình phát triển và tiến hóa từ những tấm thép cán thời kỳ đầu tới loại giáp Composite đa lớp trên những chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại. Dù về mặt thành phần cấu tạo của lớp giáp đã thay đổi, nhưng chức năng bảo vệ của lớp giáp vẫn là trọng tâm trong quá trình phát triển này.  Hiện nay, những chiếc xe tăng hiện đại có rất nhiều phương thức bảo vệ khác nhau, từ lớp giáp truyền thống cho tới những hệ thống phòng thủ chủ động tân tiến.

Trong AW, có những loại giáp chính sau:

 GIÁP HIỆU QUẢ

Tại mỗi phần của lớp giáp trên xe tăng đều có một giá trị về độ dày nhất định. Giá trị về độ dày này thể hiện sức phòng thủ của lớp giáp tại vị trí đó. Thông thường, trên một chiếc xe tăng, lớp giáp mạnh nhất là ở phía trước, trong khi lớp giáp bên hông và phía sau của nó lại mỏng hơn rất nhiều vì nhiều lý do – phía trước của chiếc tăng luôn hướng về phía quân địch, vì vậy nó sẽ là nơi phải hứng chịu hỏa lực từ phía quân địch nhiều nhất.

Ngoài giá trị về độ dày của lớp giáp, mỗi phần giáp đều có một trị số góc nghiêng nhất định. Lớp giáp nghiêng này đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống phòng thủ của những chiếc tăng hiện đại. Lớp giáp được nghiên với độ nghiêng lớn sẽ có khả năng chịu đựng được sức công phá lớn hơn nhiều so với việc lớp giáp đó không được đặt nghiêng bởi nó sẽ làm gia tăng độ dày của giáp – Ví dụ:

Một tấm giáp dày 100mm được đặt nghiêng 30 độ theo chiều ngang (hoặc 60 độ theo chiều dọc tùy theo hệ quy chiếu của bạn) sẽ có độ dày hiệu quả tương tăng gấp đôi, tương đương 200mm. (một viên đạn bắn theo phương ngang muốn xuyên qua được lớp giáp 100mm nghiêng 30* sẽ tương đương với việc xuyên qua lớp giáp 200mm không nghiêng)

Vì vậy, việc đặt nghiêng lớp giáp cũng có hiệu quả quan trọng không kém việc gia tăng độ dày của lớp giáp. Vầ tất nhiên, phần lớn những chiếc tăng hiện đại đều có xu hướng lựa chọn lớp giáp có độ nghiêng lớn thay vì lớp giáp có độ dày lớn.

GIÁP CÁN ĐỒNG NHẤT TƯƠNG ĐƯƠNG

Trong quá trình phát triển AW, chúng tôi đã gặp một vấn đề lớn khi tiếp xúc với những chiếc tăng hiện đại. Trong khi những chiếc tăng thế hệ cũ thường được nghiên cứu một cách cẩn thận và độ dày của lớp giáp của chúng đều được biết đến và công bố rộng rãi, thì lớp giáp của những chiếc tăng và phương tiện chiến đấu hiện đại lại thường được giữ bí mật vì lý do an ninh. Trong khi chúng tôi cố gắng giữ cho những chiếc xe trong game được mô phỏng giống thực tế nhất có thể, thì việc tiếp cận và phân tích dữ liệu về lớp giáp trên từng chiếc xe lại là một việc bất khả thi. Vì vậy, chúng tôi buộc phải dựa vào những ước tính về mặt quân sự của các chuyên gia và nhà phân tích, thường được công bố dưới dạng Giáp cán đồng nhất tương đương (RHAe).

Giáp cán đồng nhất tương đương – nói một cách đơn giản – đó là lượng thép mà bạn cần có để có thể tạo ra được mức độ bảo vệ tương đương với mức độ bảo vệ mà chiếc xe hiện tại có được. Những giá trị này thường rất cao bởi có sự khác biệt rất lớn giữa lớp giáp composite tổng hợp của những chiếc tăng hiện đại với lớp giáp thép đồng nhất của thế hệ tăng trước kia – VD: Không có gì quá ngạc nhiên khi những chiếc tăng chiến đấu hiện đại có lớp giáp trước dày 500mm hoặc hơn cấu tạo từ giáp cán đồng nhất tương đương, trong khi trên thực tế, những tấm giáp này thực tế chỉ dày chưa đến 150mm.

Ước lược RHAe giúp chúng ta có thể xác định được giá trị của lớp giáp trên phần lớn những tăng hiện đại trong khi chúng tôi luôn hướng tới việc giữ cho những chiếc xe trong game được mô phỏng giống nhất có thể với phiên bản ngoài đời thực của chúng, nhưng  trong một số trường hợp, quan điểm của các chuyên gia về những trị số giáp này cũng chỉ mang tính lý thuyết. Tuy nhiên, chúng tôi có thể thay đổi các giá trị nhằm cân bằng những chiếc xe trong AW,  từ đó trải nghiêm chơi game sẽ luôn là tốt nhất.

VẬT LIỆU CẤU THÀNH LỚP GIÁP

Trong WWII, những chiếc xe tăng có lớp giáp được cấu thành bởi những tấm thép, và những tấm thép này lại có chất lượng khác nhau. Chỉ cho tới khi kết thúc WWII, các loại nguyên vật liệu khác được ứng dụng. Trong AW, có sử dụng một số loại vật liệu nói trên. Phần lớn những chiếc xe được làm từ thép, nhưng cũng có một số ít được làm từ nhôm. Sự khác nhau về vật liệu cấu thành của chiếc xe được thể hiện bằng hệ số giáp:

  • Hệ số AP (Hệ số đạn xuyên giáp)
  • Hệ số HE (Hệ số đạn nổ)
  • Hệ số HEAT (Hệ số đạn nổ xuyên giáp)


Những hệ số trên được thể hiện thông qua giá trị cộng thêm (hoặc giảm đi) của lớp giáp đối với mỗi loại đạn khác nhau. VD: Lớp giáp 100mm với hệ số 1.0/1.0/1.0 sẽ được tính là có độ dày 100mm, trong khi cũng lớp giáp 100mm với hệ số 0.95/0.95/0.95 (Hệ số của lớp giáp cấu thành từ vật liệu nhôm) chỉ được tính có độ dày là 95mm. Hệ số này là không cố định, phụ thuộc vào vật liệu – đối với từng loại đạn.

Với lớp giáp là thép đồng nhất, hệ số này là đồng nhất (1.0/1.0/1.0), bởi thép được coi là vật liệu chế tạo chính của những chiếc tăng. Trong khi đó nhôm nhẹ hơn, nhưng độ bền kém hơn nên sẽ có hệ số thấp hơn một chút. Ngược lại, những loại thép có chất lượng cao hay những loại vật liệu đặc biệt sẽ có hệ số giáp cao hơn so với thép thông thường.

Cấu tạo giáp của T72-A (Lưu ý chiếc tăng này có mức độ bảo vệ cao hơn hẳn đối với đầu đạn nổ lõm – hay còn gọi là đầu đạn HEAT)

Có loại giáp có hiệu quả đặc biệt cao đối với một số loại đầu đạn nhất định – VD: Điển hình là lớp giáp Composite tổng hợp. Trên thực tế, loại giáp này bao gồm hai tấm thép được ép với một loại vật liệu đặc biệt –thường là Ceramics- ở giữa. Loại giáp này được phát triển vào những năm 50, 60 với mục tiêu bảo vệ chiếc xe tăng khỏi sự công phá của đạn HEAT.

Vì vậy, trong game, loại giáp này cực kỳ hiệu quả khi đối phó với đầu đạn HEAT. Có thể thấy rõ điều này qua hệ số giáp của loại giáp này. Và đây là loại giáp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chiếc tăng của bạn.

GIÁP RỖNG

Một số loại giáp lại có cấu tạo từ nhiều lớp đặt cách nhau một khoảng. Bởi, trong một số điều kiện nhất định, hai tấm giáp cách nhau một khoảng nhất định được cho là sẽ mang lại mức độ bảo vệ cao hơn loại giáp được cán đồng nhất có độ dày tương đương với 2 tấm giáp trên. Hiệu quả của hai tấm giáp cách nhau được phát hiện trong WWII và, được ứng dụng để bảo vệ xe chiếc xe khỏi những khẩu súng trường chống tăng. Về sau, loại giáp này được phát hiện ra là có thể nâng cao khả năng bảo vệ trước đầu đạn HEAT, từ đó, giáp rỗng trở nên ngày càng phổ biến.

Mô phỏng cấu tạo của chiếc Stingray 2 – Phần màu tím là lớp giáp rỗng


Trong AW, giáp rỗng làm giảm giá trị xuyên giáp của các đầu đạn xuyên giáp lõi cứng, theo chiều dày trước khi đầu đạn có thể tiếp tục xuyên tới lớp tiếp theo. Việc xuyên phá lớp giáp rỗng không gây hư hỏng đối với chiếc xe – để có thể gây hư hỏng cho chiếc xe, bạn cần phải xuyên phá phần (giáp chính) thân xe. Đạn HEAT khi kích nổ trên bề mặt lớp giáp sẽ xuyên phá giáp bằng cách tạo ra một luồng plasma làm nóng chảy lớp giáp, đặc biệt hiệu quả đối với loại giáp có cấu tạo bằng thép. Bằng việc khiến đầu đạn HEAT kích nổ ở khoảng cách xa hơn trước khi nó tiếp cận với thân xe, lớp giáp rỗng khiến cho luồng plasma bị phân tán và phải di chuyển quãng đường xa hơn, khiến cho sức công phá của loại đạn này bị giảm đi đáng kể.

I-Newbie dịch (còn tiếp)