Showing posts with label he. Show all posts
Showing posts with label he. Show all posts

Tuesday, November 3, 2015

NHẬT KÝ PHÁT TRIỂN - ĐẠN HE (HIGH EXPLOSIVE)


Tác giả: Andrew Rowe, AW systems designer

HE là loại đạn khá đặc biệt. Thứ nhất, HE tạo sát thương trong một vùng nhất định. HE được bắn từ pháo tăng hay pháo tự hành có thể gây sát thương lên mục tiêu một cách gián tiếp nếu mục tiêu nằm trong bán kính nổ. Hãy chú ý rằng những khẩu pháo nạp đạn tự động dùng loại đạn này sẽ không có hiệu quả như trên. Pháo nạp đạn tự động (autocannon) cần bắn trúng mục tiêu để gây sát thương.

Nếu một viên đạn HE xuyên qua lớp giáp mục tiêu, nó sẽ đạt mức sát thương tối đa và phát nổ bên trong mục tiêu đó, tiêu diệt kíp lái hoặc các module. Chúng tôi xác định một quy tắc giúp ngăn không cho toàn bộ kíp lái bị tiêu diệt cùng một lúc. Nếu toàn bộ kíp lái bị tiêu diệt chỉ với một phát bắn, Chỉ huy sẽ là người sống sót. Lưu ý điều này chỉ đúng khi toàn bộ kíp lái không bị tổn thương, vẫn có khả năng toàn bộ kíp lái bị tiêu diệt nếu họ đã bị tổn thương trước đó.

SPLASH (VÙNG SÁT THƯƠNG)

Một phát bắn gián tiếp từ pháo tăng và pháo tự hành tạo ra mức sát thương ít hơn, gọi là "splash" dam (Ta hay gọi dân gian là văng miểng - DA).

Splash dam (SD) từ pháo tăng tính bằng 25% lượng sát thương của một viên đạn pháo. Đó là mức nhỏ nhất mà một viên HE bắn từ pháo tăng có thể nhận được, nó sẽ không bị giảm bởi bất kì loại giáp nào.

SD của pháo tự hành tính trong khoảng từ 25% đến 75% mức sát thương của viên đạn pháo tự hành. Tùy thuộc viên đạn nằm xa mục tiêu bao nhiêu. Lưu ý đối với pháo tự hành, lượng sát thương có thể giảm bởi lớp giáp của mục tiêu, khoảng 25% tổng mức sát thương. Có nghĩa là đạn pháo tự hành sẽ tốt hơn khi đối phó với những xe giáp mỏng hơn là pháo của tăng, nhưng SD sẽ ít hữu dụng hơn nếu sử dụng chống lại những chiếc giáp dày hơn, như MBT. 

Thêm vào đó, những modul như xích hay đèn xe... cũng bị ảnh hưởng bới SD. Nếu xảy ra, SD sẽ bị phân tán dần, tùy thuộc vào có bao nhiêu module phụ bị ảnh hưởng. Lưu ý là thân xe (hull) sẽ không không là tác nhân phân tán trong trường hợp này.

SỰ TƯƠNG TÁC VỚI LỚP GIÁP

Mỗi viên đạn HE có chỉ số full dam (ngưỡng xuyên giáp) và chỉ số min dam (ngưỡng xuyên giáp) đã được hiển thị trong chú thích game (tooltip). Nếu một viên HE trúng mục tiêu, sát thương sẽ giảm nếu chỉ số chống đạn HE của giáp cao hơn chỉ số full dam này. Chỉ số full dam thường là con số nhỏ nếu mục tiêu có giáp dày, nghĩa là đạn HE chỉ  gây ra mức sát thương tối đa khi đối đầu với những phương tiện có lớp giáp rất mỏng.

Nếu chỉ số chống đạn HE của giáp bằng hoặc cao hơn chỉ số min dam, viên đạn sẽ gât mức sát thương nhỏ nhất. Đối với pháo tăng và pháo tự hành, mức này tính bằng 25% tổng mức sát thương.

Đối với pháo nạp đạn tự động (autocannon) thường là 10% tổng mức sát thương, nhưng chúng tôi sẽ giảm nó về 0 trong tương lai, đảm bảo autocannon sẽ vô dụng đối với những mục tiêu giáp dày.

Nếu giáp của mục tiêu nằm ở giữa khoảng  sát thương tối đa và tối thiểu, sát thương của viên đạn sẽ giảm một phần, tính theo công thức sau

% sát thương giảm = ((Mức chống HE hiệu quả của giáp - chỉ số full dam)/ (chỉ số mindam - chỉ số full dam))x100%

Ví dụ, nếu chỉ số full dam là 10, min dam là 100, chỉ số chống HE của giáp là 70. Công thức sẽ là ((70-10)/(100-10))*100% hay (60/90)*100%. Kết quả sẽ là 66.7%. Nghĩa là mức sát thương của viên đạn sẽ bị giảm đi 66.7%

Một vài loại HE có thông số đặc biệt. Ví dụ HESH (hay HEP) có khả năng tạo ra những mảnh vỡ (sát thương kíp lái hay phá hủy module) ngay cả khi nó không xuyên qua lớp giáp của mục tiêu, khi đó mức sát thương sẽ bị giảm ít hơn 50%.

KẾT LUẬN

Nói chung đạn HE rất hữu dụng khi chống lại những phương tiện có giáp mỏng, nhưng vẫn có thể kiếm được ít dam khi đối đầu với những xe giáp dày, khi mà những loại đạn xuyên giáp bình thường bó tay.

Chúng tôi hy vọng bài viết này sẽ giải thích cho bạn những thông số và cách hoạt động của đạn HE. Hẹn gặp lại trên chiến trường!
Dịch từ nguồn AW

Monday, November 2, 2015

CÁC LOẠI ĐẠN TRONG AMORED WARFARE

Có nhiều loại đạn trong Armored Warfare (AW). Tôi có nghe rằng có đến 61 loại, nhưng chưa thể kiếm chứng. Hầu hết chúng có thể được phân chia thành từng nhóm.
Lần trước chúng ta đã biết được loại đạn nào sử dụng trong tình huống nào.
Hôm nay chúng tôi xin gửi đến các bạbn một bài viết nữa mà chúng tôi nghĩ sẽ rất thú vị nếu bạn chưa từng đọc qua.
Vỏ đạn 105mm. Nguồn Amored Talk

NHẬT KÝ PHÁT TRIỂN - CÁC LOẠI ĐẠN PHÁO


Một trong những phần quan trọng nhất của mọi loại phương tiện thiết giáp là hỏa lực. Đúng vậy, nó không chỉ là những chỉ số, mà còn là tập hợp các đặc điểm có thể được phân thành 2 nhóm: các đặc diểm của khẩu pháo và những đặc điểm của đạn pháo. Trong bài viết hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu về nhóm đặc điểm thứ 2.

Trong AW, mỗi khẩu pháo trong game có khả nắng bắn nhiều hơn 1 loại đạn mà các loại đạn đó đã được phân thành 3 nhóm sau:

  • Đạn xuyên động năng (kinetic penetrators), còn gọi là đạn xuyên giáp (amor piercing)
  • Đạn HEAT - High Explosive Anti Tank hay còn gọi là đạn nổ lõm
  • Đạn nổ HE (High explosive)

Mở khóa một phương tiện sẽ cho phép bạn chọn lựa giữa nhiều loại đạn khác nhau. Nhưng loại đạn khác có thể được mở khóa bằng số điểm danh tiếng (Rep) mà bạn kiếm được qua các trận đánh. Mỗi loại đạn có thể sử dụng cho những mục đích và tình huống khác nhau. Mỗi loại có độ xuyên phá khác nhau (được gọi là hệ số xuyên giáp - Amor Penetration Factor), dùng để xác định độ dày tối đa để viên đạn có thể xuyên qua được. Cơ chế xuyên phá là hơi khác nhau cho từng loại đạn và mục đích của bài viết này là để làm rõ sự khác nhau đỏ, nhằm giúp bạn sử dụng đúng loại trong những tình huống khác nhau

ĐẠN XUYÊN ĐỘNG NĂNG

Đạn xuyên động năng là một trong những loại phổ biến nhất trong AW. Loại đạn này được đặt tên theo cách chúng sử dụng năng lượng để phá hủy mục tiêu. Bằng cách phóng đi với tốc độ cao những đầu đạn có nhiều hinh dáng và kích thước khác nhau từ hình viên đạn thường thấy đến những mũi tên siêu cứng.

Loại đạn này sử dụng rộng rãi và trong AW chúng có thể được sử dụng để chống lại nhiều phương tiện khác nhau, từ tăng hạng nhẹ, AFV cho đến các chiếc hạng nặng. Cho dù không mạnh về độ xuyên phá hay lượng dam gây ra so với các lọai đạn khác, đạn xuyên động năng vẫn được tin tưởng sử dụng để công phá các loại giáp tổng hợp khi đạn HEAT trở nên vô dụng.

Khi loại đạn này chạm đến lớp giáp của mục tiêu, chỉ số xuyên phá của chúng được tính bởi một hệ số ngẫu nhien nào đó, được so sánh với độ dày của lớp giáp (đối với đạn xuyên động năng, góc tác động được tăng thêm 5 độ, trong khi các loại đạn khác không dùng cơ chế này). Nếu độ xuyên phá cao hơn độ dày của giáp, viên đạn sẽ xuyên thủng và gây thiệt hại. Đạn xuyên động năng có thể xuyên qua nhiều lớp giáp nhiều lớp (spaced armor), nhưng nó chỉ gây sát thương khi xuyên qua lớp giáp chính của mục tiêu. Mỗi khi viên đạn xuyên được một lớp giáp, chỉ số xuyên phá sẽ bị giảm bởi độ giày của lớp giáp vừa xuyên. Cứ thế cho đến khi viên đạn chạm được đến lớp giáp chính.
Đạn xuyên động năng. Nguồn Amored Talk
Mặt khác, đạn xuyên động năng có 2 nhược điểm chính. Thứ nhất, động năng của viên đạn giảm dần theo khoảng cách. Nó không gây sát thương nhiều như 2 loại đạn kia. Cho dù luôn được tin dùng trong đa số các trường hợp, vẫn có lúc bạn phải sử dụng loại đạn khác nếu muốn có những kết quả tốt hơn.

AP, APCR, APDS và APFSDS là những biến thể khác nhau của đạn xuyên động năng. Một loại đặc biệt khác của đạn động năng là loại có khả năng gây cháy, làm tăng cơ hội làm cháy động cơ. Cho dù không có được độ xuyên và sát thương cao như những loại khác, nó vẫn được tin dùng khi đối đầu với giáp tổng hợp hoặc những loại giáp mà HEAT bó tay. Mặt khác, trong khi dễ dàng xuyên qua những mục tiêu giáp mỏng, những loại đạn khác vẫn có thể có được hiệu quả khác nhau tùy vào từng tình hình

Đặc điểm chính của loại đạn này:

  • Có thể dùng cho nhiều mục tiêu khác nhau
  • Sát thương thấp so với những loại đạn khác
  • Độ xuyên phá giảm dần  khi bắn ở khoảng cách xa

ĐẠN HEAT (ĐẠN NỔ LÕM)

Được sử dụng lần đầu trong chiến tranh thế giới thứ hai. HEAT (High explosive anti tank), hay còn gọi là đạn nổ lõm, dùng một dòng kim loại nóng chảy ở nhiệt độ cực cao tạo ra bởi sự kích nổ ở đầu đạn để xuyên qua hầu hết mọi loại giáp. Ưu điểm chính của loại đạn này là không dùng động năng để xuyên phá mục tiêu, nên có thể bắn từ những loại súng có hỏa lực không cao như súng phóng bộ binh. Thêm vào đó, HEAT không giảm độ xuyên phá khi bắn ở khoảng cách xa. Chúng thường có độ xuyên phá rất cao và thường có mức sát thương cao hơn so với đạn xuyên động năng.

Tuy nhiên, có ưu thì cũng có nhược. Đạn HEAT thường bay chậm hơn so với đạn động năng, và một khi đã phát nổ tại bất kì bề mặt nào, phần kim loại nóng chảy mất độ xuyên phá rất nhanh. Thế nên giáp nhiều lớp được sử dụng để hạn chế tác động của HEAT rất hiệu quả, vì khi đạn chạm đến được lớp giáp chính, phần lớn độ xuyên phá của nó đã mất đi. Hơn nữa, nhiều loại giáp được chế tạo để triệt tiêu hoàn toàn khả năng xuyên phá của HEAT. Lớp giáp của những chiếc tank hiện đại có thể chống lại phần lớn các loại đạn HEAT và gắn thêm giáp phản ứng nổ (ERA) tạo nên lớp vỏ chắc chắn trước gần như là tất cả các loại HEAT.

Vì vậy tốt nhất là sử dụng HEAT đối với những mục tiêu không có giáp nhiều lớp, hoặc không trang bị thêm bất cứ module giáp nào như ERA hay dùng để đối phó với những mục tiêu giáp giấy.
Đạn nổ lõm có 2 nhóm chính. Đó là đạn và tên lửa có điều khiển, cả 2 đều sử dụng những phương thức xuyên phá giống nhau.
Cắt ngang viên đạn HEAT. Nguồn Amored Talk
Nếu sử dụng một cách cẩn thận, HEAT trong AW có thể rất uy lực, còn không thì rất khó đoán trước được. Có những loại đầu đạn đặc biệt của HEAT được gọi là tandem. Loại đầu đạn này được thiết kế một cách đặc biệt để chống lại giáp phản ứng nổ. 

Tandem từ gốc là một loại xe đạp có 2 chỗ ngồi. Là một thiết bị nổ được thiết kế để thực hiện 2 hay nhiều bước nổ lõm kế tiếp nhau, có hiệu quả rất cao khi chống lại giáp phản ứng nổ
  • Bước thứ nhất, dùng luồng xuyên của lượng nổ lõm phụ kích nổ module giáp phản ứng nổ để "dọn đường" cho luồng xuyên của lượng nổ lõm chính
  • Bước thứ hai, lượng nổ lõm chính hoạt động (sau khoảng thời gian xác định), luồng xuyên mạnh hơn của nó dễ dàng xuyên thủng lớp giáp chính của xe tăng
Tham khảo: Soha

Đặc điểm chính của loại đạn này:
  • Không mất đi chỉ số xuyên phá khi bắn ở khoảng cách xa
  • Sát thương rất cao
  • Vô dụng trước một số loại giáp đặc biệt

ĐẠN NỔ MẠNH (High explosive  - HE)

Về cơ bản, HE là những viên đạn chứa thuốc nổ, được thiết kế để tiêu diệt kíp lái hoặc phá hủy những mục tiêu mềm bằng sức mạnh của thuốc nổ hay bằng những cơn mưa mảnh đạn. Sức mạnh của vụ nổ không chỉ gây sát thương cho mục tiêu tại điểm phát nổ, mà còn gây sát thương đến những mục tiêu gần đó (được tính bằng bán kính sát thương). Thực tế là HE là loại đạn có mức sát thương cao nhất trong 3 loại đạn. Nó cũng đồng nghĩa với khả năng phá hủy nhiều module hơn.
Đạn HE.
Đạn xuyên động năng. Nguồn Amored Talk
Sức công phá khủng khiếp này được cân bằng lại với khả năng xuyên phá kém, kém nhất trong 3 loại đạn kể trên. Độ xuyên thuộc loại thấp nhất, chỉ hữu ích khi đối đầu với những mục tiêu giáp giấy như AFV. Những mục tiêu với giáp dày làm giảm đáng kể khả năng công phá của HE, ngay cả khi trung mục tiêu thì lượng sát thương gây ra cũng rất ít.

Trong AW, một viên đạn HE tạo ra một quả cầu nổ khi chạm mục tiêu. Mức sát thương giảm dần tính từ tâm quả cầu và cũng là điểm chạm. Những mục tiêu ở xa tâm sẽ nhận mức sát thương ít hơn. Độ xuyên phá kém thường giúp những mục tiêu bị bắn bởi loại đạn này không phải hứng chịu lần full dam nào. Mặt khác, nếu đã xuyên được, sát thương gây ra sẽ cực lớn, những mảnh đạn sẽ bay bên trong mục tiêu, gây sát thương kíp lái và phá hủy những module trong bán kính nổ.

Đạn nổ sử dụng chính sức nổ để phá hủy mục tiêu. Thường sử dụng để chống lại những mục tiêu có lớp giáp mỏng.

Đặc điểm chính của loại đạn này:
  • Sát thương cực cao trong bán kính nổ, giảm dần từ tâm bán kính
  • Độ xuyên thấp
  • Rất hữu dụng khi chống những mục tiêu giáp giấy
HESH (HEP) là một biến thể đặc biệt của HE. Không như những loại đạn HE bình thường không tạo ra quả cầu nổ bên trong mục tiêu khi không xuyên phá được, đạn HESH có thể tạo ra quả cầu nổ và có khả năng phá hủy module hay sát thương kíp lái ngay cả khi không xuyên. Rất hữu ích khi đối đầu với mục tiêu giáp dày. 

SỰ XUYÊN PHÁ TRONG AW


Quá trình xuyên phá có thể được diễn giải theo từng bước sau:
  • Đạn bắn từ khẩu pháo có chỉ số xuyên phá nhất định. Nếu viên đạn chạm mục tiêu, một phát bắn trúng đích được ghi nhận (phát đạn trúng đích có thể xuyên hoặc không)
  • Tác động của viên đạn có những tiêu chuẩn riêng(thay đổi bằng những chỉ số nhất định). Góc tác động của đạn xuyên động năng được tăng thêm 5 độ, HE và HEAT thì không
  • Ricochet (nẩy đạn) xảy ra khi viên đạn tác động vào mục tiêu dưới một góc rất lớn. Viên đạn sẽ thay đổi quỹ đạo và độ xuyên phá sẽ giảm đi 30%. Viên đạn nảy sẽ vẫn có khả năng gây sát thương, nếu quỹ đạo mới đi đúng vào một mục tiêu nào đó.
  • Viên đạn nếu không bị nẩy sẽ có một chỉ số xuyên phá nhất định. Chỉ số này được dựa trên một hệ số ngẫu nhiên (10% cho đạn AP và HE, 10% cho đạn HEAT) và sẽ được so sánh với khả năng chống xuyên của giáp (phụ thuộc vào góc tác động)
  •  Nếu độ xuyên phá lớn hơn khả năng chống xuyên giáp, viên đạn sẽ xuyên vào trong mục tiêu, phá hủy module (đối với AP và HEAT) hoặc phát nổ, gây sát hư hại lớn đến những module nằm trong bán kính nổ
Chỉ có những viên đạn xuyên được lớp giáp chính mới có thể gây sát thương (HE là ngoại lệ), xuyên được các lớp giáp ngoài  hoặc những module gắn bên ngoài không gây sát thương cho mục tiêu

Dịch từ nguồn Amored Talk



ĐẠN PHÁO TRONG AW - HEAT, AP, HE và ATGM, HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG NHANH


Nguồn ảnh: Armored Talk
   Bạn đã chơi qua AW và thấy rằng trong game có rất nhiều sự lựa chọn về các loại đạn pháo. Loại đạn mà bạn sử dụng có thể có sự khác biệt lớn về khả năng sát thương (nếu thành công) khi bạn sử dụng chúng. Có một lưu ý là sẽ không có đạn premium hay đạn gold trong AW. Chỉ là những loại đạn với những khả năng tác động khác nhau đối với từng loại giáp, và phần lớn các loại đạn này có giá ngang nhau trong cùng một loại phương tiện.

   Mọi game đều yêu cầu phải học hỏi dần dần, và phần dành cho những người chơi mới trong AW là dùng loại đạn này để đối phó với loại giáp nào. Dưới đây là những chỉ dẫn không phải là cuối cùng trong AW, nhưng đó như một khóa học cấp tốc dành cho bạn. Chúng tôi rất muốn nhận được những phản hồi.


NHỮNG LOẠI ĐẠN TRONG ARMORED WARFARE
Nguồn ảnh: Armored Talk

 ĐẠN AP - ARMOR PIERCING
Nguồn ảnh: Armored Talk

   AP là loại đạn "màu xanh" trong AW, viết tắt của Amor piercing - đạn xuyên giáp. Những biến thể khác nhau của đạn AP bạn sẽ gặp trong game:
  • APDS - Amour-piercing discading sabot
  • APFSDS - Amour-piercing fin-stabilized discading sabot
  • HVAP - High velocity armor piercing
  • APCR - Amour-piercing composite rigid
   Đạn AP là loại đạn xuyên động năng, dựa vào tốc độ và trọng lượng đạn để xuyên phá mục tiêu. Loại đạn này có gia tốc lớn nên có độ xuyên phá cao, bù lại là damage thấp hơn so với những loại khác.  Tốc độ và sự chính xác làm cho loại đạn này trở nên rất hữu dụng đối với mọi mục tiêu... tất nhiên là khi xuyên được giáp.

   Hãy tưởng tượng đạn AP như một mũi tên hay chiếc phi tiêu phóng ra từ một chiếc tank. Viên đạn (mũi tên) có thể bay xuyên qua các vật thể như hàng rào hay xích xe. Trừ khi mục tiêu của bạn không thể xuyên (pen) được, như bắn vào phần thân trước của 1 chiếc MBT cấp cao hơn đang "hull down", AP là loại đạn cho bạn nhiều cơ hội để gây sát thương nhất nhờ vào khả năng xuyên phá cao của chúng. Vẫn có những khả năng bạn không thể pen, đó là khi đạn bị nảy (bounce) vì góc tiếp xúc của viên đạn với mục tiêu chỉ định không đủ tốt, nhưng để xuyên phá thì AP vẫn là sự lựa chọn hàng đầu. Nếu bạn biết được mình không thể xuyên qua lớp giáp của kẻ địch, bạn sẽ phải đổi loại đạn, hay nhắm bắn vào những vị trí khác.

KHI NÀO SỬ DỤNG AP TRONG AW

   Khi những loại đạn khác không thể xuyên. Và khi đối đầu với những mục tiêu di động. Gia tốc lớn của AP rất thuận lợi khi phải xử lý những mục tiêu di động.
Nguồn ảnh: Armored Talk

ĐỘ XUYÊN PHÁ TRONG AW

   Bạn có thể tự hỏi mình làm thế nào để pen được chiếc tank kia. Xác định cơ hội để pen bằng cách nhìn vào tâm ngắm, nếu nó màu xanh lá tức là cơ hội pen lớn, màu vàng là 50-50 và khi bạn thấy tâm ngắm có màu đỏ, tốt nhất nên chuyển sang HE, ATGMs, hoặc đánh tạt sườn đối thủ. Tôi đã dùng cả 2 loại AP và HEAT khi tâm ngắm có màu đỏ, và vẫn xuyên được, nhưng điều này diễn ra không thường xuyên. Trong những tình huống đó, thường là bạn may mắn và viên đạn đi đúng vào những điểm yêu nhỏ khác (weak spot). Đừng quá tin vào khả năng xuyên khi tâm ngắm có màu đỏ vì chúng sẽ không xảy ra thường xuyên.
Tâm ngắm màu xanh, có thể pen. Nguồn ảnh: Armored Talk
Tâm ngắm màu đỏ.Khó pen. Nguồn ảnh: Armored Talk

 ĐẠN HE (HIGH EXPLOSIVE)
Nguồn ảnh: Armored Talk

   HE là loại đạn hiển thị bằng màu vàng (không phải đạn vàng) trong AW, viết tăt của High explosive - đạn nổ mạnh. Những biến thể của HE là:
  • HE - High explosive
  • HEP - High explosive plastic
  • HESH - High explosive squash head
  • HEI - High explosive incendiary
    HE có gia tốc chậm hơn, nên độ xuyên cũng ít hơn, và thường có lượng dam ít hơn so với các loại đạn khác, trừ khi nó xuyên qua được lớp giáp. Lợi ích khi sử dụng HE là nó gây ra sát thương lớn nếu pen được, khả năng gây sát thương một cách gián tiếp, và thường gây sát thương lên kíp lái hoặc phá hỏng các thành phần (module) của xe đối phương ngay cả khi không pen. Gia tốc chậm khiến bạn khó khăn hơn khi bắn các mục tiêu di động so với những loại đạn có gia tốc cao khác như AP.

  Cứ nghĩ rằng HE là quả lựu được bắn ra từ những khẩu súng phóng lựu. Nếu nó xuyên được những mục tiêu giáp mỏng, khả năng sát thương là cực đại. Nếu không, khả năng sát thương chỉ ở mức gãi ngứa cho đối phương mà thôi.

KHI NÀO THÌ SỬ DỤNG HE TRONG AW

   Có nhiều trường hợp mà bạn muốn dùng HE. Phổ biến nhất là khi AP và HEAT không thể pen mục tiêu. Bạn đối đầu với 1 chiếc MBT đang hull down và bạn không thể chạy đi đâu được, xài HE ngay. Bạn lái 1 chiếc AFV và muốn nướng một số module hay kíp lái đối phương nhưng không thể làm điều đó với loại đạn đang dùng, load HE và xử đẹp đối phương.

   Ít phổ biến hơn là khi bạn dùng HE để ngăn đối phương chiếm base (reset base). Điểm chiếm base sẽ reset chỉ cần có dam, thay vì phải pen như những loại đạn khác. Đó là loại đạn chắc chắn bạn muốn dùng khi reset base nếu bất kì loại đạn nào khác không có tác dụng.
Nguồn ảnh: Armored Talk

ĐẠN HEAT TRONG AW
Nguồn ảnh: Armored Talk

   HEAT (Sharp Charge - đạn nổ lõm) là loại đạn màu đỏ trong AW. Những biến thể của HEAT là:
  • HEAT
  • Stabilized HEAT
   Có những loại đạn không bị mất đi độ xuyên khi bắn ở khoảng cách xa. Loại này dam thường lớn hơn AP khi chúng tạo ra một nguồn nhiệt cao để xuyên thủng lớp giáp nhờ khối thuốc nổ bố trí theo hình phễu. Sau đó phóng ra các mảnh, hạt nhỏ để công phá modul hoặc kíp lái đằng sau lớp giáp. Chú ý là có những biện pháp để đối phó với cơ chế này của đạn HEAT.

   Tưởng tượng HEAT là những khối thuốc nổ tạo ra những hạt (mảnh) nhỏ để công phá những thứ nằm phía sau lớp giáp (giả sử nó xuyên qua được lớp giáp đó). Nếu HEAT bắn trúng những vật thể như hàng rào, hay những module khác bên ngoài xe, nó có thể phát nổ sớm. HEAT là loại đạn chậm hơn AP.

KHI NÀO THÌ SỬ DỤNG HEAT TRONG AW?

   Thường xuyên? Trừ khi bạn biết mình không thể pen (khi tâm ngắm có màu đỏ), hoặc khi bạn đối đầu với những phương tiện có lớp giáp phản ứng nổ (ERA). HEAT là loại đạn tốt nhất nên dùng.  Lớp giáp phản ứng nổ (ERA) thường là những khối hình hộp, được đặt bên ngoài lớp giáp chính, đây là biện pháp đối phó khá hiệu quả với HEAT. Nhưng những xe mà bạn có thể pen khi dùng HEAT đều có dam lớn hơn khi bạn dùng AP. Chốt lại, HEAT pen kém hơn nhưng dam lớn hơn.
Nguồn ảnh: Armored Talk

ATGM (ANTI-TANK GUIDED MISSILES) TRONG AW
Nguồn ảnh: Armored Talk

   Anti-tank guided missles (ATGM - Tên lửa chống tăng có điều khiển) được dẫn đường sau khi bắn bằng chuột. Thường có lượng dam bằng với HEAT, trong game độ pen và dam của ATGM được tính toán như đạn HEAT. Mặt khác, nó lại có những đặc điểm giống với đạn HE.

   Để phóng ATGM, xe tăng buộc phải đứng yên, mặt khác dùng ATGM không đơn giản là ngắm và bắn như những loại đạn khác. Một khi tên lửa được phóng, bạn phải dẫn đường cho tên lửa đến mục tiêu bằng cách điều chỉnh tâm ngắm đúng vào mục tiêu. Sẽ rất dễ nếu mục tiêu cố định, nhưng nếu mục tiêu di động thì bạn sẽ gặp khó khăn hơn một chút. Bạn có thể thử điểu chỉnh đường đi của tên lửa hay góc tiếp cận mục tiêu, nhưng nên nhớ rằng chúng không hoàn toàn chính xác như hy vọng.

   Một lợi thế đáng kể của ATGM là chúng có độ pen cao. Nhưng đi kèm đó là thời gian nạp đạn lâu nhất.

KHI NÀO THÌ DÙNG ATGM?

   Tương tự với HEAT, hãy cẩn thận khi đối đầu với những chiếc tank dùng giáp ERA. Ngoài ra cũng cần đề phòng những xe dùng APS - hệ thống phòng vệ chủ động, được thiết kế để ngăn chặn tên lửa đang bay đến, không để chúng tiếp cận mục tiêu. ERA và APS trang bị phổ biến ở những xe cấp cao.

   ATGM ở một vài xe thường cho dam lớn hơn và pen cao hơn. Hãy dùng ATGM khi bạn không phải là mục tiêu chính trên chiến trường. Khi ở bạn ở một khoảng ách an toàn, ở vị trí cao hoặc ở phía sau chiến tuyến, khi kẻ địch đang chăm chú tấn công những xe khác cùng phe với bạn. Bạn cần đứng yên để có thể phóng tên lửa và chỉ định chúng bay đến đích một cách chính xác nhất.

   Lưu ý: đổi loại đạn nhanh hơn là đợi reload. Vẫn cần có 1 khoảng thời gian để chuyển từ AP/ HEAT sang ATGM nhưng không lâu bằng load ATGM từ đầu.

ĐẠN PHỤ TRỢ TRONG AW

   Có một số loại đạn đặc biệt không gây dam mà bạn có thể sử dụng trong AW

 LỰU ĐẠN KHÓI (SMOKE GRENANDES)
Nguồn ảnh: Armored Talk

   Một vài phương tiện có thể được trang bị đạn khói. Bạn có thể dùng chúng bằng cách nhấn phím "G" trên bàn phím. Loại đạn này thường dùng để che mắt địch để bạn có thể rút lui. Hiệu ứng khói chỉ xảy ra vài giây, thế nên chuồn cho thật nhanh.

ĐẠN KHÓI (SMOKE SHELLS)
Nguồn ảnh: Armored Talk

   Đạn khói được bắn từ pháo tự hành nhằm tạo hiệu ứng như Smoke Grenades. Sự khác nhau là ở bán kính tác động, đạn khói có bán kính lớn hơn. Pháo tự hành có thể kiếm được điểm rep bằng cách làm mất tầm nhìn của đối phương đến người chơi cùng phe. Dùng đạn khói khi quân ta gặp nguy hiểm, như lúc đang rút lui. Hay khi đang chiếm base.

ĐẠN PHÁT SÁNG (ILLUMINATION SHELLS)
Đạn phát sáng trong game. Nguồn ảnh: Armored Talk

Pháo tự hành cũng có thể bắn đạn phát sáng (pháo sáng) để phát sáng một khu vực nào đó. Pháo tự hành cũng nhận được điểm rep khi phát hiện được khi dùng đạn phát sáng
Pháo tự hành dùng đạn phát sáng. Nguồn ảnh: Armored Talk

CẤP ĐỘ ĐẠN 
Cấp độ đạn trong game. Nguồn ảnh: Armored Talk

Khi bạn kiếm được điểm rep trong AW, bạn sẽ có thể mở khóa những loại đạn uy lực hơn. Dễ dàng phân biệt chúng bằng những sọc ngang.

TỔNG KẾT NHỮNG LOẠI ĐẠN TRONG AW

Quy luật chung của tôi là:
  • Dùng HEAT bất cứ khi nào có thể, trừ khi bạn không thể pen
  • Nếu cần pen cao hơn, dùng AP
  • Nhiều tình huống cho phép xe đứng yên bắn tỉa, ATGM sẽ rất hữu dụng
  • Khi những cách trên không ăn thua gì, hoặc muốn reset base một cách nhanh chóng, chuyển sang dùng HE

Dịch từ nguồn Armored Talk